Dấu Hiệu Của Quai Bị

     
Brenda L. Tesini

, MD, University of Rochester School of Medicine and Dentistry


Bệnh quai bị là một căn bệnh cấp tính, truyền nhiễm, nhiễm virus mang tính hệ thống, thường gây ra sự sưng đau tuyến nước bọt, thường là các tuyến mang tai. Các biến chứng có thể bao gồm viêm tinh hoàn, viêm não màng não và viêm tụy. Chẩn đoán thường là lâm sàng; tất cả các trường hợp được báo cáo ngay cho các cơ quan y tế cộng đồng. Điều trị là hỗ trợ. Tiêm chủng có hiệu quả phòng ngừa.

Bạn đang xem: Dấu hiệu của quai bị


Hầu hết các virus lây nhiễm sang người đều có thể ảnh hưởng đến cả người lớn và trẻ em và được thảo luận ở những phần khác trong quyển The Manual. Các virus có tác động đặc hiệu đối với trẻ sơ sinh được thảo luận trong Nhiễm trùng ở trẻ sơ sinh Tổng quan về Nhiễm trùng sơ sinh . Chương này bao gồm các bệnh nhiễm vi-rút thường xảy ra trong thời thơ ấu (mặc dù nhiều loại cũng có thể ảnh hưởng đến người lớn).


Các tác nhân gây bệnh quai bị, một paramyxovirus, được lây lan bởi giọt hoặc nước bọt. Loại vi-rút này có thể xâm nhập qua mũi hoặc miệng. Nó có trong nước bọt đến 7 ngày trước khi sưng tuyến nước bọt xuất hiện với khả năng lây lan tối đa ngay trước khi sự viêm tuyến mang tai tiến triển. Nó cũng có trong máu và nước tiểu, và nếu hệ thần kinh trung ương bị nhiễm, sẽ tìm thấy trong dịch não tuỷ. Người mắc bệnh sẽ có miễn dịch vĩnh viễn.


Quai bị ít truyền nhiễm hơn sởi. Nó xảy ra chủ yếu ở các quần thể không được tiêm chủng, nhưng sự bùng phát trong quần thể đã được tiêm chủng phần lớn cũng đã xảy ra. Sự kết hợp giữa thất bại vắc xin ban đầu (không có miễn dịch sau khi chủng ngừa) và sự suy giảm miễn dịch có thể đã đóng góp vào sự bùng nổ này. Trong năm 2006, đã xảy ra tái xuất hiện của quai bị ở Hoa Kỳ với 6584 trường hợp, xảy ra chủ yếu ở những người trẻ tuổi đã có tiêm chủng. Kể từ thời điểm đó, các đợt bùng phát lẻ tẻ, chủ yếu ở các trường đại học và trong các cộng đồng có tiếp xúc gần khác, đã góp phần làm cho các ca bệnh dao động từ mức thấp là 229 vào năm 2012 lên mức cao là 6366 vào năm 2016 và 6109 vào năm 2017 (xem Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Các trường hợp và đợt bùng phát bệnh quai bị.)


Cũng như bệnh sởi, bệnh quai bị có thể được di nhập, dẫn đến lây truyền tại địa phương, đặc biệt là ở các địa điểm tụ tập (ví dụ như trường đại học) hoặc các cộng đồng khép kín (ví dụ như các cộng đồng Do Thái theo truyền thống). Tỷ lệ quai bị cao điểm là vào cuối mùa đông và đầu mùa xuân. Bệnh xảy ra ở bất cứ lứa tuổi nào nhưng là bất thường ở trẻ em < 2 tuổi, đặc biệt là < 1 tuổi. Khoảng 25 đến 30% trường hợp lâm không biểu hiện lâm sàng.


Sau giai đoạn ủ bệnh từ 12 đến 24 ngày, hầu hết bệnh nhân đều bị nhức ađầu, chán ăn, khó chịu, và sốt từ nhẹ đến vừa. Các tuyến nước bọt có biểu hiện bệnh 12 đến 24 giờ sau đó, với sốt lên đến 39,5 đến 40° C. Sốt kéo dài 24 đến 72 giờ. Sưng các tuyến đỉnh điểm vào khoảng ngày thứ 2 và kéo dài 5 đến 7 ngày. Các tuyến có liên quan rất mềm trong suốt thời kỳ sốt.

Xem thêm: Mách Bạn 8 Mẹo Cho Bé Ngủ Đêm Ngon Giấc Mẹ Nào Cũng Nên Biết


Viêm tuyến mang tai thường là hai bên nhưng có thể là một bên, đặc biệt là giai đoạn khởi phát. Đau khi nhai hoặc nuốt, đặc biệt là khi nuốt chất lỏng có tính axit như giấm hoặc nước cam quýt, là triệu chứng đầu tiên của nó. Sau đó nó gây ra sưng bên ngoài tuyến mang tai ở phía trước và dưới tai. Đôi khi, các tuyến dưới hàm và dưới lưỡi cũng sưng lên và, thường hiếm gặp là những tuyến duy nhất bị ảnh hưởng. Khi có ảnh hưởng tuyến dưới hàm sẽ gây sưng vùng cổ gần hàm, và phù trên xương ức, có thể do tắc nghẽn bạch huyết do tuyến nước bọt tăng kích thước. Khi các tuyến dưới lưỡi có liên quan, lưỡi có thể sưng lên. Các lỗ ống đô vào miệng của các tuyến bị tổn thương phù nề và viêm nhẹ. Da trên tuyến có thể trở nên căng và sáng bóng.


Quai bị có thể liên quan đến các cơ quan khác ngoài tuyến nước bọt, đặc biệt là ở bệnh nhân sau dậy thì. Những biến chứng như vậy bao gồm


Khoảng 20% bệnh nhân nam sau dậy thì tiến triển viêm tinh hoàn Viêm tinh hoàn

*
(tinh hoàn bị viêm), thường là một bên, đau, mềm, phù, đỏ da, và tăng nhiệt độ bìu. Một số chứng teo tinh hoàn có thể xảy ra, nhưng sự sản sinh testosterone khả năng sinh sản thường được bảo tồn. Ở nữ giới, viêm buồng trứng (sự liên quan của tuyến sinh dục) thường ít được biết đến hơn, ít đau đớn hơn và không làm giảm khả năng sinh sản.


Theo dõi quai bị ở những bệnh nhân bị viêm tuyến nước bọt và các triệu chứng toàn thân điển hình, đặc biệt nếu có viêm tuyến mang tai hoặc có dịch quai bị đã được xác định. Xét nghiệm cận lâm sàng không cần thiết để chẩn đoán nhưng được khuyên dùng cho mục đích y tế cộng đồng. Các điều kiện khác có thể gây ra các vấn đề tuyến tương tự ( xem Bảng: Các nguyên nhân gây sưng to tuyến mang tai và tuyến nước bọt khác Các nguyên nhân gây sưng to tuyến mang tai và tuyến nước bọt khác

*
). Quai bị cũng được nghi ngờ ở những bệnh nhân viêm màng não vô khuẩn hoặc viêm não không rõ nguyên nhân trong đợt dịch quai bị bùng phát. Chọc dịch não tuỷ là cần thiết cho bệnh nhân có dấu hiệu màng não.

Xem thêm: 100++ Từ Ngữ Về Đồ Dùng Trong Gia Đình, Học Hết 100 Từ Vựng Về Các Vật Dụng Trong Nhà


*

Tiêm chủng với vắcxin phòng bệnh quai bị sống Vắc-xin sởi, quai bị và rubella (MMR) ( xem Bảng: Lịch tiêm chủng khuyến nghị cho trẻ từ 0-6 tuổi Lịch tiêm chủng khuyến nghị cho trẻ từ 0-6 tuổi

*
và xem Bảng: Lịch tiêm chủng được đề xuất cho độ tuổi từ 7 đến 18 Lịch tiêm chủng được đề xuất cho độ tuổi từ 7 đến 18
*
) cũn cung cấp sự phòng ngừa hiệu quả và không gây ra phản ứng tại chỗ hoặc toàn thân. Trẻ em được khuyến cáo sử dụng hai liều, là loại kết hợp vaccin sởi, quai bị, rubella:


Tiêm phòng sau khi phơi nhiễm không có tác dụng phòng chống mắc quai bị khỏi sự phơi nhiễm đó. Globulin miễn dịch quai bị không còn nữa, và globulin miễn dịch huyết thanh không hữu ích. Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật khuyên nên cách ly bệnh nhân với các biện pháp phòng ngừa tiêu chuẩn và tránh lây nhiễm qua giọt hô hấp trong 5 ngày sau khi bắt đầu viêm tuyến mang tai. Những người tiếp xúc dễ bị tổn thương nên được tiêm phòng, và liều thứ ba được khuyến cáo cho những người đã được chủng ngừa trước đây có nguy cơ mắc quai bị trong đợt bùng phát dịch, như được xác định bởi các quan chức y tế công cộng. Các dữ liệu đáng tin cậy đang thiếu, nhưng liều thứ 3 và các biện pháp bổ sung có thể giúp kiểm soát sự bùng phát ( 1 Tham khảo phòng ngừa Bệnh quai bị là một căn bệnh cấp tính, truyền nhiễm, nhiễm virus mang tính hệ thống, thường gây ra sự sưng đau tuyến nước bọt, thường là các tuyến mang tai. Cá... đọc thêm

*
). Nhân viên y tế không có dấu hiệu nhưng chưa có miễn dịch cần nghỉ làm từ 11 ngày sau khi phơi nhiễm ban đầu cho tới 25 ngày sau lần phơi nhiễm cuối.